Quan hệ lao động, hợp đồng lao động, tiền lương và BHXH với NLĐ nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp

09/12/2025 05:05 PM


Theo Luật BHXH 2024, người lao động (NLĐ) nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc.

Với vấn đề thanh toán tiền lương trong nước với NLĐ nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, Bộ Nội vụ hướng dẫn:

NLĐ nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Về quan hệ lao động, hợp đồng lao động, tiền lương và BHXH:

Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cả nhân và quan hệ lao động tập thể”.

Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa NLĐ và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”. Đồng thời, điểm d khoản 1 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019 quy định một trong các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động là: “Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.

Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho NLĐ theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.

Mặt khác, điểm a khoản 2 Điều 2 Luật BHXH 2024 quy định về NLĐ là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ trường hợp “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam”.

Điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định về hình thức làm việc của NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam là “thực hiện hợp đồng lao động”. Đồng thời, khoản 4 Điều 22 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định: “Đối với NLĐ nước ngoài theo quy định tại các điểm a và m khoản 1 Điều 2 Nghị định này, sau khi NLĐ nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và NLĐ nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc…”.

Trường hợp NLĐ nước ngoài làm việc được trả lương tại Việt Nam thì trước ngày dự kiến làm việc, người sử dụng lao động phải đề nghị cấp giấy phép lao động cho NLĐ nước ngoài và thực hiện ký kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động, tham gia BHXH tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về BHXH.

Về hình thức làm việc “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp”:

Điểm b khoản 13 Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định trường hợp NLĐ nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp: Di chuyển có thời hạn trong nội bộ doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới và đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục”.

Trường hợp NLĐ nước ngoài làm việc theo hình thức “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp” thì người sử dụng lao động phải đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định tại Điều 8 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, trong đó, điểm c khoản 5 Điều 8 đã quy định về giấy tờ chứng minh đối với trường hợp này là: “Văn bản chứng minh là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật theo quy định tại Điều 19 Nghị định này kèm theo văn bản của người sử dụng lao động tại nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc có thời hạn tại hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và xác nhận đã được người sử dụng lao động tại nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục ngay trước khi vào Việt Nam làm việc”.

Do đó, trường hợp “NLĐ nước ngoài được trả lương” (thực hiện đề nghị cấp giấy phép lao động) và trường hợp “NLĐ nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp” (thực hiện đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động) là hai trường hợp khác nhau theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Nguồn: ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn